Hà Đồ và Thiên văn: Các quan điểm và phương pháp phân tích Hà Đồ từ góc độ thiên văn
(1) Quan điểm cho rằng Hà Đồ được hình thành dựa trên thời lệnh và lịch pháp do hướng chỉ của cán sao Bắc Đẩu quyết định.
Người xưa cho rằng sao Bắc Cực (Bắc Thần) làm thể (bất động), còn sao Bắc Đẩu làm dụng (xoay vòng). Thời cổ đại, người ta dùng hướng chỉ của cán sao Bắc Đẩu vào lúc chạng vạng tối để xác định mùa màng, kết hợp với sao Bắc Đẩu để định ra chế độ lịch 10 tháng.
-
Cấu trúc lịch: Một năm có 10 tháng, mỗi tháng 36 ngày, cả năm là 360 ngày; mỗi tháng có 3 tiết khí, cả năm có 30 tiết khí.
-
Sự phân chia bốn mùa: Bắt đầu từ ngày “Chính”, lúc chạng vạng, cán của 7 ngôi sao Bắc Đẩu chỉ về hướng Đông, là mùa Xuân (8 tiết khí, 96 ngày); chỉ về hướng Nam, là mùa Hạ (7 tiết khí, 84 ngày); chỉ về hướng Tây, là mùa Thu (9 tiết khí, 108 ngày); chỉ về hướng Bắc, là mùa Đông (6 tiết khí, 72 ngày).
Sao Bắc Đẩu quay một vòng trên bầu trời là hoàn tất một năm 360 ngày. Cuốn «Quản Tử • Ấu Quan» (chữ “Ấu Quan” 幼官 thực chất là viết sai của “Huyền Cung” 玄宫) bắt nguồn từ chế độ lịch 10 tháng thời Thượng cổ, từ những ghi chép trong đó có thể rút ra một sơ đồ hợp nhất giữa phương vị và các con số. Các con số này chính là số tiết khí, số 5 ở trung tâm bắt nguồn từ cảm nhận của người xưa về 5 ngón tay/chi tiết trên cơ thể người. Nhìn vào các con số từ 1, 2, 3, 4, đến 5 thì dừng lại, đó chính là số sinh của Hà Đồ; còn 6, 7, 8, 9, 10 đều được tạo ra bằng cách lấy 5 cộng thêm 1, 2, 3, 4, 5, đó chính là số thành của Hà Đồ. Có thể thấy, Hà Đồ được sinh ra trong quá trình người xưa tìm tòi quy luật luân chuyển của bốn mùa và thiết lập nên hệ thống lịch pháp sơ khai.
(2) Quan điểm cho rằng Hà Đồ được vẽ dựa trên thời tiết và thiên tượng xuất hiện/lặn của Ngũ tinh (Năm hành tinh).
Ngũ tinh thời cổ gọi là Ngũ vĩ, gồm 5 hành tinh trên trời: Mộc gọi là Tuế tinh, Hỏa gọi là Huỳnh Hoặc tinh, Thổ gọi là Trấn tinh, Kim gọi là Thái Bạch tinh, Thủy gọi là Thần tinh.
-
Sự vận hành của Ngũ tinh lấy Nhị thập bát tú (28 chòm sao) làm khu vực phân chia. Vì quỹ đạo của chúng cách đường xích đạo không xa, nên người xưa dùng để ghi chép ngày. Ngũ tinh xuất hiện và lặn đều có tiết hậu riêng, thường theo thứ tự Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy, lần lượt xuất hiện trên bầu trời cực Bắc, mỗi ngôi sao di chuyển trong 72 ngày, 5 ngôi sao hợp lại thành một vòng chu thiên 360 độ. Quỹ đạo của 3 sao Mộc, Hỏa, Thổ lớn và nằm ở ngoài, vừa khớp với số 216 của Kiền sách; quỹ đạo của 2 sao Kim, Thủy nhỏ và nằm ở trong, vừa khớp với số 144 của Khôn sách.
-
Quy luật Thắng – Phụ: Nếu Ngũ tinh xuất hiện ở giữa trời đúng giờ, gọi là “Thắng”, có thể dùng ngôi sao đối diện đang ẩn (không nhìn thấy) để kiểm chứng, ngôi sao đang ẩn này gọi là “Phụ”. Ví dụ, nếu sao Thủy đương vị, có thể đo sao Hỏa ở vị trí đối diện để kiểm chứng, khi đó sao Thủy là Thắng, sao Hỏa là Phụ, các sao khác cũng tương tự.
-
Quy luật hình thành sơ đồ Hà Đồ:
-
Thủy tinh: Xuất hiện ở phương Bắc vào giờ thứ 1 (giờ Tý) và giờ thứ 6 (giờ Tỵ) mỗi ngày; gặp Mặt Trời và Mặt Trăng ở phương Bắc vào các ngày 1, 6 (mùng 1, mùng 6, 11, 16, 21, 26) hàng tháng; xuất hiện vào buổi chiều tối ở phương Bắc vào tháng 11 và tháng 6 hàng năm. Do đó gọi là Một và Sáu hợp thành Thủy, hay Trời 1 sinh Thủy, Đất 6 thành nó.
-
Hỏa tinh: Xuất hiện ở phương Nam vào giờ thứ 2 (giờ Sửu) và giờ thứ 7 (giờ Ngọ); gặp Nhật Nguyệt ở phương Nam vào các ngày có số 2, 7 hàng tháng; xuất hiện vào chiều tối ở phương Nam vào tháng 2 và tháng 7 hàng năm. Do đó gọi là Hai và Bảy hợp thành Hỏa, hay Đất 2 sinh Hỏa, Trời 7 thành nó.
-
Mộc tinh: Xuất hiện ở phương Đông vào giờ thứ 3 (giờ Dần) và giờ thứ 8 (giờ Mùi); gặp Nhật Nguyệt ở phương Đông vào các ngày có số 3, 8 hàng tháng; xuất hiện vào chiều tối ở phương Đông vào tháng 3 và tháng 8 hàng năm. Do đó gọi là Ba và Tám hợp thành Mộc, hay Trời 3 sinh Mộc, Đất 8 thành nó.
-
Kim tinh: Xuất hiện ở phương Tây vào giờ thứ 4 (giờ Mão) và giờ thứ 9 (giờ Thân); gặp Nhật Nguyệt ở phương Tây vào các ngày có số 4, 9 hàng tháng; xuất hiện vào chiều tối ở phương Tây vào tháng 4 và tháng 9 hàng năm. Do đó gọi là Bốn và Chín hợp thành Kim, hay Đất 4 sinh Kim, Trời 9 thành nó.
-
Thổ tinh: Xuất hiện ở Trung ương vào giờ thứ 5 (giờ Thìn) và giờ thứ 10 (giờ Dậu); gặp Nhật Nguyệt ở giữa trời vào các ngày có số 5, 10 hàng tháng; xuất hiện vào chiều tối ở giữa trời vào tháng 5 và tháng 10 hàng năm. Do đó gọi là Trời 5 sinh Thổ, Đất 10 thành nó.
(Theo Trâu Học Hy – «Trung Quốc Y Dịch học»)
-
(3) Quan điểm cho rằng Hà Đồ chính là bản đồ của Thiên Hà (tức dải Ngân Hà).
Hà Đồ đáng lẽ phải có hình tròn, là một sơ đồ gồm 9 số, hay còn gọi là “Thiên cầu cửu cung đồ”. Bốn cụm chấm/tuyến đen nằm ở 4 góc của Hà Đồ 9 số chính là 4 chòm sao quan trọng nhất trong Nhị thập bát tú trên bản đồ thiên văn.
-
Từ bức tinh đồ thời nhà Liêu ở Tuyên Hóa có thể thấy: 2 sao liên châu ở góc trên [bên phải] chính là Giác tú; 4 sao liên châu ở góc trên bên trái là Tỉnh tú (hoặc Quỷ tú); 8 sao liên châu ở góc dưới bên trái là Khuê tú (hoặc Lâu tú); 6 sao liên châu ở góc dưới [bên phải] là Đẩu tú (hoặc Ngưu tú).
-
Các số lẻ nằm ở 4 vị trí chính (Tứ chính), dựa vào bản đồ tinh tượng Nhị thập bát tú khắc đá thời Tống có thể thấy: Phía trên là chòm Tốn tú có nhiều sao có thể nhìn thấy nhất, nên ghi là “Chín” (9); phía dưới là sao Câu Trần, hoặc ngôi sao sáng nhất của Nữ tú, nên ghi là “Một” (1); bên phải là 7 ngôi sao của Vĩ tú, ghi là “Bảy” (7); bên trái là 3 ngôi sao của Sâm tú, ghi là “Ba” (3).
-
Theo ghi chép thời Hán, tổng số sao cấp 1 và cấp 2 là 46 ngôi, gần bằng tổng 45 của các con số trên Hà Đồ 9 số. Do đó có thể giả định rằng sơ đồ 9 số này đã được vẽ ra từ thời Hán.
(Theo Thường Quang Minh – «Hà Đồ Lạc Thư Giải»)
(4) Quan điểm cho rằng Hà Đồ bắt nguồn từ mô hình Trời Đất – Bốn mùa – Năm tượng.
Xích đạo chia làm hai đi kèm với đường phân chia Mậu Kỷ ở giữa, tức là Tượng số 3; Xích đạo chia làm bốn đi kèm với giao điểm của hai đường Mậu Kỷ, tức là Tượng số 5. Lấy thứ tự sắp xếp 28 chòm sao trên xích đạo vận hành sang phải, lấy chuyển động biểu kiến của xích đạo xoay sang trái để phân chia Trời Đất, sinh ra Bốn mùa, từ đó có được “Thiên địa tứ thời ngũ tượng đồ” (Sơ đồ Trời đất 4 mùa 5 tượng) cố định.
-
Đầu tiên phân chia Trời – Đất: Trời chia 1 và 3, tỷ lệ âm dương của Trời 1 là (0:3), tỷ lệ âm dương của Trời 3 là (-1:2); Đất chia 2 và 4, tỷ lệ âm dương của Đất 2 là (-3:0), tỷ lệ âm dương của Đất 4 là (-2:0).
-
Tiếp đến sinh ra Bốn mùa: Trời 1 là mùa Hạ, Đất 2 là mùa Đông, Trời 3 là mùa Thu, Đất 4 là mùa Xuân.
-
Số 5 ngự ở Trung ương, không làm chủ 4 mùa nhưng lại cai quản 4 mùa, không chiếm giữ 4 phương nhưng lại bao trùm 4 phương. Các con số này đều có tác dụng hóa sinh ra các Tượng số đối lập với nó. Ví dụ như Trời 1 Hỏa, có thể hóa sinh ra Đất 2 Thủy đối ứng, tức là “Trời 1 sinh Thủy”, các phần khác suy luận tương tự, cấu thành nên các Số sinh Ngũ hành của Hà Đồ.
-
Từ sinh hóa đến trưởng thành, phải trải qua quá trình 180 ngày hoặc 180 độ. Phép tính $180/360$ (ngày hoặc độ) $= 0.5$, tức là Tượng số 5, bằng một nửa hình tròn. Ví dụ Trời 1 Hạ Hỏa sinh Đông Thủy, trải qua quá trình của số 5, hình thành nên Đông Thủy mang Tượng 6 (hình ảnh của 1 cộng 5), do đó 1 và 6 nằm ở phía dưới phương Bắc. Suy luận tương tự cho các hướng khác sẽ ra được Tượng số Hà Đồ.
(Theo Từ Tử Bình – «Trung Y Thiên văn Y học Khái luận»)




