Một số tiêu chí luận đoán Tứ Trụ ly hôn

1. Dưới nhật can (tọa hạ) là Ấn thụ, chủ về vợ chồng bất hòa ý kiến hoặc ly hôn. Nữ mệnh có chi ngày (nhật chi) tọa Thương quan cũng tương tự.
2. Nữ mệnh có chi ngày là Thiên quan, tọa hạ Thương quan, mà Thân lại cường, khí vượng, cũng là điềm báo ly hôn.
3. Phàm là nam hay nữ, trong mệnh phạm Lục hại thì phần lớn chủ về ly hôn.
4. Phàm trong bát tự có Mộ khố, nếu Đại vận hoặc Lưu niên lại đi vào vận Mộ khố, chủ về biến cố hôn nhân (hôn biến). Hoặc đi vào vận Đào hoa, hoặc khắc cha mẹ.
5. Nam mệnh chi ngày tọa tại Tý, Ngọ, Mão, Dậu, gọi là “Thê lâm bại địa” (vợ rơi vào đất suy bại), chủ về người vợ không đoan chính; vợ ngoại tình, cuộc hôn nhân đầu tiên không thể bách niên giai lão, ắt phải ly hôn cưới lại. Nữ mệnh thì chủ về tái giá.
6. Trụ ngày Bính Tý, cuộc hôn nhân đầu tiên ắt thất bại, vợ chồng ly hôn hoặc tử vong, nam nữ đều chung số mệnh này.
7. Nữ mệnh Thất sát lộ ra, Chính quan ẩn tàng (Sát lộ Quan tàng), hôn nhân đầu tiên ắt thất bại.
8. Tứ trụ không thấy sao Quan Sát, cũng không có Thực Thương, có thể nói là người trinh tiết. Nhưng nếu không có sao Quan mà Địa chi lại xuất hiện nhiều Đào hoa, thì ắt phải tái giá.
9. Thiên can “nhất tự liên” (cùng một chữ xếp liền nhau), chủ về cô độc, phá bại, tổn phúc triền miên. Địa chi “nhất tự liên”, lại là đại kỵ thần trong mệnh, ắt sẽ phải kết hôn lần hai.
10. Trên can của Tứ trụ gặp quá nhiều sao Quan, hoặc trên Địa chi dầy đặc sao Quan, ba lần đò (lấy chồng) cũng khó mà yên.
11. Quan Sát hỗn tạp mà sao Tài lại nhiều, là số mệnh chồng chất nhiều đời chồng, phải tái giá.
12. Nữ mệnh Thương quan không có chế hóa, ắt phải tái giá. Dưới trụ ngày là Dương nhẫn, Thương quan, nếu lại là Kỵ thần, người này ắt chết thảm (ác tử).
13. Nam mệnh Thân vượng mang Dương nhẫn, gặp năm bị xung, chủ về ly hôn; Chính tài gặp hợp, Chính tài gặp xung, tình cảm vợ chồng ắt tan vỡ.
14. Nam giới phạm Thiên tảo tinh, Thiết tảo tinh chủ về trùng hôn (lấy nhiều vợ), tái giá. Nữ giới có Thương quan gặp xung, sao Quan suy nhược chủ về ly hôn tái giá. Nữ giới phạm Địa tảo tinh, Thiết tảo tinh, Bạo bại sát, nếu gặp Lưu niên, Tiểu vận bị xung thì chủ về ly hôn.
15. Phạm Âm dương giao thác (Âm dương sai thác) chủ về ly hôn. Nữ mệnh có mệnh cục xung với sao Quan chủ về ly hôn.
16. Nữ mệnh Chính quan suy thoái hoặc hoàn toàn không có, mà Thất sát lại xuất hiện chồng chéo hoặc Cung phu (cung chồng) tọa Thất sát độc lập, đồng thời Thương quan cũng không yếu, thì đó là số làm lẽ (thiên phòng), nếu không thì hợp làm vợ kế (điền phòng – lấy người nam tục huyền). Nếu toàn cục can chi có nhiều hợp hóa, hoặc nguyên cục Thương quan khí vượng, mà sao Phu (chồng) lại xuất hiện lặp đi lặp lại hoặc bị hợp hóa thành ngũ hành khác, thì e rằng là số mệnh “ba lần kết hôn, bốn lần lên kiệu hoa”.
17. Nữ mệnh sao Quan bị xung khắc, phá tổn quá mạnh mẽ, hoặc nguyên mệnh hoàn toàn không có chủ khí của sao Quan (thì hôn nhân dễ trắc trở).
18. Nữ mệnh Chính quan không thấu ra, mà lại thấu Thương quan cùng Thất sát, chi ngày không tọa Chính quan lại gặp hình – xung – hợp – hóa nghiêm trọng, có thể đoán thẳng là sẽ có hai lần đò.
19. Nữ mệnh trên Thiên can trước thấu Chính quan sau thấu Thất sát, dưới Địa chi cũng trước thấy Chính quan sau thấy Thất sát, mà Cung phu gặp hình – xung – hợp – hóa nghiêm trọng, cũng là điềm báo hai lần đò.
20. Nữ mệnh có trụ năm và trụ ngày Phục ngâm (tức là can chi giống hệt nhau), Cung phu (chi ngày) lại bị xung, có thể đoán là khắc chết chồng rồi mới tái giá. Nếu là Phục ngâm ở các trụ khác, dù địa chi bị Phục ngâm này không phải là bản khí của sao Quan, nhưng cũng áp dụng quy luật “Cung phu xuất hiện lặp lại rồi bị xung”, thì cũng là cuộc hôn nhân thứ hai do ly hôn rồi tái giá.
21. Nữ mệnh Thương quan lộ ra (xuất đầu), sao Phu không hiển lộ mà nhập vào đất Mộ khố, Cung phu lại gặp hình xung kép (trùng hình xung), chủ về trước khi kết hôn nhân duyên hỗn loạn, không rõ ràng, sau khi kết hôn cũng ắt khắc chồng hoặc ly dị/ly thân.
22. Nếu trên Thiên can thấu ra hai Thương quan (song thấu), Cung phu lại gặp hình – xung – hợp – hóa thành Kỵ thần, có thể đoán là có từ hai đời chồng trở lên.
23. Nếu Thất sát cường vượng hoặc Cung phu bị Thất sát hợp, thích hợp làm vợ kế (điền phòng) hoặc làm lẽ (thiên thất).
Bạn có muốn tôi giải thích cụ thể thêm về một thuật ngữ Bát tự nào trong bài (ví dụ như Thương quan, Thất sát, Phục ngâm…) để hiểu rõ hơn bản chất của các câu đoán này không?

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *