DƯƠNG QUÂN TÙNG CỔ PHÁP PHONG THỦY & CỔ DƯƠNG CÔNG PHONG THỦY PHÂN KIM CHÂN TRUYỀN

DƯƠNG QUÂN TÙNG CỔ PHÁP PHONG THỦY & CỔ DƯƠNG CÔNG PHONG THỦY PHÂN KIM CHÂN TRUYỀN

Thời Đường Hy Tông (năm 880 sau CN), Dương Quân Tùng, người giữ chức Linh Đài Địa Lý (quan coi thiên văn địa lý), làm quan đến chức Kim Tử Quang Lộc Đại Phu, vì tránh loạn lạc mà mang theo cuốn “Cấm Trung Ngọc Hàm Bí Thuật” (tức là cuốn “Táng Thư” của Quách Phác), chạy về Dương Tiên Lĩnh ở Cám Châu. Tại đây, ông thu nhận đồ đệ truyền thuật, sáng lập ra Quách Dương Cổ Pháp Phong Thủy Thuật. Thuật này được thi hành ở Cám Nam, phổ cập ở Giang Tây và truyền đi khắp toàn Trung Quốc. Nó đặt nền móng cho lý luận hệ thống, thực tiễn cụ thể và quy phạm hóa thao tác của phong thủy học chính thống khoa học cổ đại Trung Quốc.

Thuật phong thủy Quách – Dương – Tăng, về mặt lý pháp được chia làm hai loại: Quách Dương Tăng “Cổ Pháp”Quách Dương Tăng “Tân Pháp”.

Quách Dương Tăng “Cổ Pháp” Phong Thủy Thuật:

 

Là phương pháp do Dương Quân Tùng cùng các đệ tử Tăng Văn Thấu (Tăng Văn Sán), Lưu Giang Đông đích thân thực hành. Lấy “Táng Thư” của Quách Phác làm chủ đạo lý luận, lấy “Thanh Nang Áo Ngữ” của Dương Quân Tùng và “Thiên Ngọc Kinh Tự” của Tăng Văn Thấu làm tổng cương lĩnh thực hành. Sử dụng 72 Long Ngũ Hành, Long – Thủy giao hội, nội thừa Long khí, ngoại tiếp Đường khí (khí minh đường), biện chứng trong ngoài, là thuật phong thủy chuyên luận về quan hệ Huyền Khiếu.

Quách Dương Tăng “Tân Pháp” Phong Thủy Thuật:

 

Phong thủy Cổ pháp được truyền đến đời Lệ Bá Thiều (khoảng 998-1022), đến thời Nam Tống niên hiệu Thiệu Hưng (1131-1162), Hồ Thuấn Thân dung hội lý học của Chu Hy, “cải cách” Cổ pháp thành “Tân pháp”. Ông gia tăng sự cát hung của phương “Hướng”, chủ yếu luận về quan hệ Huyền (Long) – Quan (Hướng) – Khiếu (Thủy khẩu). Đây gọi là thuật phong thủy Quách – Dương – Tăng – Hồ (Thuấn Thân).

  • Cổ pháp: Dùng 72 Long để Cách long (đo long) Thừa khí, dùng 72 Long để Tọa huyệt Lập hướng.

  • Tân pháp: Dùng Thấu địa 60 Long để Cách long Thừa khí, nhưng vẫn dùng 72 Long để Tọa huyệt Lập hướng.

Lý luận chủ đạo của Dương Cứu Bần (Dương Quân Tùng) vốn dựa trên “Cấm Trung Ngọc Hàm Bí Thuật” của triều Đường, tức “Táng Thư – Nguyên tác” của Quách Phác nói: “Táng giả, tàng dã, thừa sinh khí dã” (Chôn cất là tàng ẩn, là nương theo sinh khí). Bất luận là Âm trạch (chôn cất) hay Dương trạch (nhà ở) đều là “Thừa sinh khí” (Nương theo sinh khí). Và nguyên tắc: “Thế vi nan, hình thứ chi, phương hựu thứ chi” (Thế là khó nhất, Hình đứng sau, Phương hướng lại đứng sau nữa).

Câu khẩu quyết bí truyền về Thừa khí, Tọa huyệt, Lập hướng là: “Kim long, nhất kinh nhất vĩ nghĩa bất đồng, động bất động, trực đãi cao nhân thi diệu dụng” (Kim long, một kinh một vĩ nghĩa khác nhau, động hay không động, đợi bậc cao nhân thi thố diệu dụng).

“Thừa khí” là thừa long khí, thừa khí của Nhập Thủ Long. Sau đó căn cứ vào khí của Nhập Thủ Long để quyết định huyệt Tọa Long Khí.

Thừa nội khí, là thừa khí giao hội giữa Lai Long sau huyệt (chủ yếu là Nhập Thủ Long) và dòng Tùy Long Thủy của nó. Long Thủy giao hội còn gọi là Âm Dương giao hội. Tức là:

  • Ất và Bính giao, cùng xu về Tuất.

  • Tân và Nhâm giao, cùng xu về Thìn.

  • Đinh và Canh giao, cùng quy về Sửu.

  • Quý và Giáp giao, cùng quy về Mùi. (Tức khẩu quyết: Ất Bính giao nhi xu Tuất, Tân Nhâm hội nhi tụ Thìn, Đấu Ngưu nạp Đinh Canh chi khí, Kim Dương thu Quý Giáp chi linh).

Thanh Long và Bạch Hổ:

 

Cái gọi là Thanh Long Bạch Hổ có hai khái niệm:

  1. Phân theo Tứ Thế (Bốn thế đất): Gọi là phương Thanh Long và phương Bạch Hổ.

  2. Phân theo việc hộ vệ khu huyệt: Gọi là Thanh Long và Bạch Hổ.

Đa số các thầy phong thủy thông thường đều cho rằng “Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ” (Trái là Thanh Long, Phải là Bạch Hổ), do đó cứ núi bên trái thì gọi là Thanh Long, núi bên phải gọi là Bạch Hổ. Thậm chí phàm những gì thuộc bên trái nhà cửa, dòng nước… đều gọi là Thanh Long, bên phải gọi là Bạch Hổ (Điều này cần xem xét lại theo Cổ pháp).

Long Quá Giáp và Bác Hoán:

 

Yêu cầu đối với Quá Giáp (chỗ thắt eo của long mạch) là phải “Phong yêu hạc tất” (eo ong gối hạc). Cái gọi là Bác Hoán (thay đổi hình dáng), chính là “Như sóng nước, như ngựa chạy, nhọn bằng cao vút, vuông tròn tú lệ”. Cũng như tránh các thế “Như ngọn giáo, như rắn sợ, hình như tổ chim, và 5 điều không nên (Ngũ bất nghi): Đồng (trọc), Đoạn (đứt), Thạch (đá), Quá (quá), Độc (cô độc)”.

Điểm Thủy Khẩu và Sa Thủy Khẩu:

 

Thủy khẩu, hay còn gọi là Lưu Thần, Kim Long, là chỉ tổng cửa ra của nước (tổng xuất thủy khẩu) của các dòng Tùy long thủy và Triều ứng thủy tụ hội trong Minh đường La thành trước huyệt.

Sa thủy khẩu, chính là Sa (gò/núi) ở hai bên trái phải bao quanh cửa nước ra. Về thuật ngữ, có nơi gọi là Hạ Quan Sa, Hạ Tý Sa. Cũng có nơi gọi là Thủy Khẩu Long Hổ Sa. Tác dụng của nó là đóng giữ cửa nước (Quan lan xuất thủy khẩu). Các lớp Giao Nha (răng lược đan xen) càng nhiều thì chứng tỏ đóng cửa nước càng chặt, là thủy khẩu tốt nhất.

Sa và Phong Triều Ứng (Chầu về):

 

Gọi là Phong (ngọn) và Sa, không thể phân biệt dựa vào độ cao thấp lớn nhỏ của núi, mà nên phân biệt dựa vào hình dáng có uốn lượn hay không.

  • Phàm núi nổi lên cô độc thì gọi là Phong.

  • Không nổi lên cô độc mà uốn lượn nhấp nhô thì gọi là Sa. Hình thể của Phong, thường yêu cầu phải trang nghiêm hiển hách, nhọn bằng cao vút, vuông tròn tú lệ, cây cỏ tốt tươi.

Phàm là Phong Sa Triều Ứng, bắt buộc phải “Triều hải củng thần, chủ khách thức tâm, chủ khách tương nghênh”, tức là Phong Sa của Tứ thế đều phải hướng về huyệt trường, giống như các vì sao trên trời đều chầu về sao Bắc Thần.

Triều Đường Thủy:

 

Là nước chảy đến trước huyệt và xung quanh minh đường của nền nhà.

  • Về Hình pháp: Quý ở chỗ nguồn xa dòng dài, êm đềm trong trẻo, uốn khúc kỳ lạ bao bọc huyệt hữu tình. Kỵ nước chảy xiết, đặc biệt kỵ xung thẳng vào huyệt trường.

  • Về Lý pháp: Quý ở Sinh Vượng triều huyệt, kỵ ở Suy Bại, đặc biệt kỵ Phá Vượng Xung Sinh.

Lai Long Chứng Huyệt:

 

Lai long chứng huyệt, hay còn gọi là Thẩm long (xét long) và Cách long (đo long). Từ huyệt trường thông tới Thiếu Tổ Sơn, xét từng tiết long mạch cho đến Thiếu Tổ Sơn. Phải thông thẳng đến huyệt trường để quán khí vào huyệt.

Tiêu Sa, Nạp Thủy:

 

Tiêu Sa Nạp Thủy là việc tiến hành nương theo điểm huyệt tại Minh đường, nhằm dự trắc cái tốt xấu và sự chính xác của điểm huyệt. Cuối cùng vẫn phải thông qua Lai Long Chứng Huyệt mới có thể định đoạt.

Thi Công:

 

  1. Trạch cát nhật (Chọn ngày): Bổ Long, Phù Sơn, Tương (hợp) Tiên mệnh là chính, kiêm quan tâm đến Tài, Đinh, Quý.

  2. Bố cục: Tôn ty trật tự.

  3. Giám định Thổ sắc, Khí vị.

  4. Khai bàn phóng tuyến (Đặt la kinh phân kim): Thi công chính xác.

  5. Bồi thổ (Lấp đất): “Tịch dĩ cố chi” (mở ra để làm cho vững), tiến hành niêm phong kín, ngoài ra phải tiến hành thoát nước chống ẩm.


CỔ DƯƠNG CÔNG PHONG THỦY PHÂN KIM CHÂN TRUYỀN

 

(Quy tắc Kiêm hướng – Phân kim theo Cổ pháp)

  • Nhâm hướng nên kiêm Tỵ Hợi 3 phân.

  • Ngọ hướng nên kiêm Đinh Quý 3 phân.

  • Đinh hướng nên kiêm Tý Ngọ 3 phân.

  • Mùi hướng nên kiêm Cấn Khôn 3 phân.

  • Khôn hướng nên kiêm Sửu Mùi 3 phân.

  • Thân hướng nên kiêm Giáp Canh 3 phân.

  • Canh hướng nên kiêm Dần Thân 3 phân.

  • Dậu hướng nên kiêm Ất Tân 3 phân.

  • Tân hướng nên kiêm Mão Dậu 3 phân.

  • Tuất hướng nên kiêm Ất Tân 3 phân.

  • Càn hướng nên kiêm Tỵ Hợi 3 phân.

  • hướng nên kiêm Đinh Quý 3 phân.

  • Quý hướng nên kiêm Ngọ Tý 3 phân.

  • Sửu hướng nên kiêm Cấn Khôn 3 phân.

  • Cấn hướng nên kiêm Thân Dần 3 phân.

  • Dần hướng nên kiêm Khôn Cấn 3 phân.

  • Giáp hướng nên kiêm Dần Thân 3 phân.

  • Mão hướng nên kiêm Ất Tân 3 phân.

  • Ất hướng nên kiêm Mão Dậu 3 phân.

  • Thìn hướng nên kiêm Tốn Tỵ 3 phân.

  • Tốn hướng nên kiêm Thìn Tuất 3 phân.

  • Hợi hướng nên kiêm Tân Tỵ 3 phân.

Mộ mới chôn nếu kiêm theo phân kim ở trên, trong vòng 5 đến 10 năm sẽ không xảy ra việc gì, nhưng phải loại trừ những Long Huyệt mang sát khí nặng (như Sát nhân Hoàng tuyền lai thủy…). Nội dung giải thích về Cổ pháp Dương Công Phong thủy Kiêm hướng phân kim không tiện công khai trên mạng, xin giữ lại để giải thích chi tiết trong lớp học sau này. Thông thường mộ mới chôn xong mà Phân kim sai, thì bất kể Long Huyệt tốt thế nào, Thủy lai khứ tốt thế nào, Thu sơn tốt thế nào cũng đều xảy ra chuyện, việc nhỏ thì bại tài thương thân, việc lớn thì tai họa bất ngờ, chết chóc.


CÁC TRƯỜNG HỢP PHÂN KIM (Dự đoán cát hung)

 

(Dưới đây là danh sách chi tiết cát hung của các hướng kiêm – Lưu ý: Một số trường hợp trong văn bản gốc được liệt kê là xấu/tốt tùy theo cách kiêm)

Nhâm Sơn kiêm Tý: Chủ tử tôn phú quý, các chi phòng đều cát, lục súc hưng vượng, nhân đinh xương thịnh, ruộng vườn nườm nượp, con cháu dâu rể trung hiếu hiền lương, danh tiếng vang bốn biển, đời đời vô cùng, thăng quan tiến chức.

1. Nhâm Sơn kiêm Hợi: Đời đầu tử tôn phú quý phát như sấm, đời thứ hai tử tôn không ra đạo làm người (bất xuất nhân luân), phải lập tự con nuôi, đời thứ ba sinh người điên liệt, què chân, lại làm trướng cướp ắt gặp hung, về sau đơn đinh qua đời tất tuyệt tự.

2. Tý Sơn kiêm Nhâm: Tử tôn đời đầu phát như sấm, nửa cát nửa hung. Đời hai không tốt, trong ngoài nam nữ dâm loạn, bệnh phong tật phá bại, vợ ly tán bán con, uống thuốc treo cổ cắt cổ, về sau đơn đinh, nhảy sông tự vẫn, sau nữa phòng 2 tuyệt.

3. Tý Sơn kiêm Quý: Đời đầu tử tôn nhân đinh hưng vượng, ruộng đất vào hàng ngàn vạn, phú quý nắm quyền trấn biên cương. Đời hai các phòng hưng thịnh, nam phụ hiếu thuận, hiền lương nghìn đinh, vạn khẩu tử tôn, thọ như Bành Tổ.

4. Quý Sơn kiêm Tý: Đời đầu tử tôn nhân đinh phát không vẹn toàn, nửa hung nửa cát phát như sấm, bại như tro. Về sau tử tôn bị bệnh phong tật thổ huyết, trai gái phóng túng, trăm nghề võ nghệ đều hung.

5. Quý Sơn kiêm Sửu: Đời đầu đều bình hòa, phát như sấm, phú quý vẹn toàn. Đời hai gia môn xương thịnh, mãn đường hòa thuận, ngàn đinh vạn khẩu học hành đỗ đạt mặc áo tía làm quan.

6. Sửu Sơn kiêm Cấn: Nhân đinh đại vượng, ruộng đất vạn khoảnh, phú quý không ngờ, đầy nhà áo tía, con cháu đời đời làm quan, chịu ơn vua, nữ vào cung trăng (cung phi), nam làm công hầu giữ biên cương, phú quý cực phẩm.

7. Cấn Sơn kiêm Sửu: Đời đầu tiểu phú quý, nửa cát nửa hung, không vẹn toàn, nam nữ bất chính, phá tài tổn đinh, trong nhà dâm loạn rối bời. Đời ba thiếu niên quả phụ giữ phòng không, thổ huyết lao thương chịu tai ương, bệnh phong câm điếc mù lòa gù lưng cùng bị.

8. Cấn Sơn kiêm Dần: Đời đầu phú quý vẹn toàn, ngàn đinh vạn khẩu hiền lương, gia môn xương thịnh đủ hưng long, con cháu đời đời chịu vua phong, tam công đỗ đạt mãi vô cùng.

9. Dần Sơn kiêm Cấn: Đời đầu phú quý đều, đời hai sinh con anh hùng, nắm binh quyền, ngàn đinh vạn khẩu làm tướng võ, đời đời tăng cao, phúc thọ vẹn toàn, vàng ngọc áo bào không dứt, đầy cửa áo đỏ.

10. Dần Sơn kiêm Giáp: Đời đầu phú quý, nhân đinh vượng, nhưng hung nhiều cát ít. Đời hai bệnh phong, sởi, hổ dữ làm hại, sét đánh, uống thuốc treo cổ, dâm loạn làm tướng cướp, cô hàn quả tú, về sau nhân đinh suy bại.

11. Giáp Sơn kiêm Dần: Đời đầu tiểu phú quý nhưng không tốt, một hưng một bại. Đời hai người mạng nghèo hèn, cô yêu (chết yểu) tổn thiếu đinh (trẻ nhỏ), bệnh phong què chân phù thũng, sét đánh vợ con, lại làm tướng cướp, về sau dâm loạn, trăm sự không tốt.

12. Giáp Sơn kiêm Mão: Nhân đinh đại vượng, lục súc thành đàn, phú quý vẹn toàn, khoa giáp đỗ đạt, nam nữ tiết hiếu hiền lương.

13. Mão Sơn kiêm Ất: Đời đầu nhân đinh đại vượng, lục súc hưng thịnh. Đời ba rộng lớn, điền sản khoa giáp, phú quý vẹn toàn, võ tướng đăng cử, nam nữ hiếu thuận hiền thục lương thiện.

14. Ất Sơn kiêm Mão: Đời đầu phát nhỏ, không lâu trưởng tử (con cả), nhân đinh hưng vượng. Đời hai hưng suy thất thường, thoái tài tổn đinh họa chưa cháy bùng thì đã nghèo khổ cô hàn, trai gái dâm loạn, tuyệt tự không tốt.

15. Ất Sơn kiêm Thìn: Lục súc hưng vượng, vĩnh thế phú quý vẹn toàn. Đời hai ruộng đất vào nhiều, nam nữ tiết hiếu, đầy cửa thân mang áo đỏ tía, phúc lộc đầy.

16. Thìn Sơn kiêm Ất: Đời đầu phú quý hưng vượng. Đời hai trăm con ngàn cháu, phẩm hàm võ tướng. Đời ba anh hùng nắm triều cương.

17. Mão Sơn kiêm Giáp: Đời đầu phú quý vẹn toàn, bình ổn vào ruộng đất, tử tôn trung hiếu hiền lương, thăng quan tiến chức.

18. Thìn Sơn kiêm Tốn: Chủ các phòng đều đại phú quý, lục súc hưng vượng, tiền lương vạn khoảnh. Đời hai phú quý cực phẩm, ngàn đinh vạn khẩu võ tướng đăng cử, thần đồng xuất phú, danh dương bốn biển, binh bộ mãn đường thụ phong.

19. Tốn Sơn kiêm Thìn: Tài thoái tổn đinh, án mạng kiện tụng, lìa vợ bán con, gặp hung uống thuốc, treo cổ, nhân đinh bại.

20. Tốn Sơn kiêm Tỵ: Phú quý vẹn toàn, các phòng đều cát, đời đời hưng long.

21. Tỵ Sơn kiêm Thìn: Hậu đại bình bình, một hưng một bại, may mà tử tôn hiền lương.

22. Tỵ Sơn kiêm Tốn: Không ra nhân luân (loạn luân/vô đạo), lập tự thừa kế, nam nhân dâm loạn, tổn đinh thoái tài, bệnh phong điếc tai, câm ngọng què chân gù lưng.

23. Bính Sơn kiêm Tỵ: Đời đời hưng long, các phòng đều bình ổn, tài đinh khá vượng.

24. Bính Sơn kiêm Ngọ: Thoái tài tổn đinh, dâm loạn cô quả, trai gái uống thuốc, treo cổ cắt cổ nhảy sông, lại làm tướng cướp, bệnh phong, lìa vợ.

25. Ngọ Sơn kiêm Bính: Nhân đinh lưỡng vượng, lục súc hưng vượng, phú quý song toàn các phòng đều cát.

26. Ngọ Sơn kiêm Đinh: Về sau cô quả thoái tài tổn đinh, trai gái, làm tướng cướp, án mạng lìa vợ, quan tư tật bệnh bán con, trong ngoài xuất quái, sau tất tuyệt.

27. Đinh Sơn kiêm Ngọ: Các phòng đều bình, về sau có hoạnh tài (tài lộc bất ngờ), nhân đinh cực vượng, song toàn quý tử, đầy cửa trung lương.

28. Đinh Sơn kiêm Mùi: Đời đầu tiểu phú quý. Đời hai nửa cát nửa hung, tổn đinh phá tài quan tư thị phi. Đời ba bệnh phong sét đánh, trong ngoài dâm loạn, đơn đinh qua phòng (làm con nuôi), đi đày, nhảy sông, suy bại.

29. Mùi Sơn kiêm Đinh: Về sau lập tự thừa kế, không ra nhân luân, trai gái phóng túng, chết đường chết chợ, cô quả thoái bại.

30. Mùi Sơn kiêm Khôn: Phúc lộc phong sương, trung giáo liêm tiết, nhân đinh lưỡng vượng.

31. Khôn Sơn kiêm Mùi: Bình ổn, các phòng ruộng đất vào nhiều, ngàn đinh vạn khẩu.

32. Khôn Sơn kiêm Thân: Vợ đổi thiếp, thoái tài tổn đinh, uống thuốc bệnh phong, lao gầy vàng da bệnh bại. Trai gái dâm loạn, tẩu thúc đồng sàng (chị dâu em chồng loạn luân), làm tướng cướp.

33. Thân Sơn kiêm Khôn: Các phòng phú quý, đời đời hưng long, phúc lộc thọ toàn.

34. Thân Sơn kiêm Canh: Về sau tử tôn ngỗ nghịch, điền sản hóa thành tro, nam nhân dâm tà, bệnh phong lao bệnh, nhảy sông uống thuốc treo cổ, nhân mạng chết trẻ (thiếu vong) phá bại.

35. Canh Sơn kiêm Thân: Về sau chủ bệnh phong thổ huyết, phòng nhỏ ly hương, dâm loạn cô hàn.

36. Canh Sơn kiêm Dậu: Các phòng đều bình, trăm ngày có hoạnh tài, phú quý song toàn.

37. Dậu Sơn kiêm Canh: Phú quý song toàn, các phòng đều bình, ngàn đinh vạn khẩu phúc thọ trường.

38. Dậu Sơn kiêm Tân: Lâu sau cha chẳng ra cha, con chẳng ra con, nam phụ dâm loạn, tẩu thúc đồng sàng, án mạng quan phi (kiện tụng), uống thuốc bại gia, lìa vợ bán con, cô hàn bệnh phong không dứt, đơn đinh cũng bần cùng.

39. Tân Sơn kiêm Dậu: Lâu sau phú quý không vẹn toàn, tổn đinh phá tài, quan tư nhân mạng, uống thuốc chết kỳ dị, gia môn dâm loạn, bệnh phong hỏa chứng, đơn đinh nghèo khổ.

40. Tân Sơn kiêm Tuất: Các phòng đều bình, phú quý song toàn vượng đinh, tử tôn hiền lương.

41. Tuất Sơn kiêm Tân: Phú quý song toàn, ngàn đinh vạn khẩu, gia môn xương thịnh.

42. Tuất Sơn kiêm Càn: Về sau lập tự, thừa kế thiếu niên, quả phụ giữ phòng không, gia môn dâm loạn, bệnh phong lao thương thổ huyết.

43. Càn Sơn kiêm Tuất: Không cát xương, năm năm tháng tháng chịu tai ương bại phá.

44. Càn Sơn kiêm Hợi: Đời đời hưng long, các phòng phú quý song toàn.

45. Hợi Sơn kiêm Càn: Đại vượng tài, Đinh phòng đều cát, đời đời xương thịnh điền trang vào nhiều.

46. Hợi Sơn kiêm Nhâm: Đại cát xương, nhưng đời đời đơn đinh phải lập con thừa tự (qua phòng).

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *