KIẾN THỨC HÌNH LOAN: 7 HÌNH DẠNG ĐẠI HUNG CỦA SAO THAM LANG (CỬU TINH DƯƠNG CÔNG)

Cổ nhân có câu:
“Tham Lang vốn có mười hai dạng,
Nhọn, Tròn, Bằng, Thẳng, Nhỏ là trên.
Nghiêng, Lệch, Trắc, Đá, Đổ, Phá, Rỗng,
Họa phúc nặng nhẹ tự khác nhau.
Hỏi người đến đây sao phân biệt?
Chớ nói Tham Lang chung một hình.”
Sao Tham Lang thuộc ngũ hành Mộc, vốn là một đệ nhất Cát Tinh chủ về phú quý, quan lộc và thọ xương. Theo nguyên lý Mộc – Hỏa tương sinh, Tham Lang đắc cách nhất là khi lấy sao Liêm Trinh (thuộc Hỏa) làm Tổ sơn, cách nhau hàng trăm dặm hô ứng thì sẽ kết huyệt đại quý. Sách “Hám Long Kinh” cũng từng viết: “Tham Lang nhược phi Liêm tác tổ, vi quan dã bất đáo Tam Công” (Tham Lang nếu không lấy Liêm Trinh làm tổ, làm quan cũng không đến bậc Tam Công).
Trong dương trạch, mái nhà cao vút, tường rào nhấp nhô, bốn mái hiên chầu về được xem là Mộc hình Tham Lang. Đây là thế cát lợi, chủ về khoa bảng đỗ đạt, văn chương cái thế. Tuy nhiên, nếu trước cửa có hung sa, ắt sẽ tổn hại nhân đinh.
Hôm nay, Hoàng tôi muốn nhấn mạnh với quý vị một sai lầm rất phổ biến trong giới Tầm long điểm huyệt: Không phải cứ thấy thế núi vút cao, nhô lên kiêu hãnh thì đều là Tham Lang Tinh đắc cách.
Tham Lang có tới 12 loại hình thái. Trong đó, 5 hình thái hợp quy cách (Thượng cách) là: Tiêm (Nhọn), Viên (Tròn), Bình (Bằng), Trực (Thẳng) và Tiểu (Nhỏ).
7 hình thái còn lại do bị biến dạng, không hợp quy cách, được xếp vào nhóm “Thất Ác Hình” (7 hình dáng đại hung). Họa phúc mà chúng mang lại rất khác nhau, cụ thể như sau:
1. Y (Sạt lở) và Phá (Nứt vỡ)
Hình Y: Bốn mặt núi đều bị sạt lở, lở lói không đều nhau, mất đi bản thể, nhìn xa lờ mờ mới ra dáng Tham Lang.
Hình Phá: Từ đỉnh núi xuống chân núi có vết nứt nẻ, có dấu vết rãnh nước chảy xói mòn, lộ rõ ra bên ngoài.
2. Tà (Xiên lệch)
Đặc trưng là “bên có bên không”. Hai bên sườn núi mất đi sự đối xứng hoàn toàn. Một bên thì gầy guộc, dốc đứng như vách tường; bên kia lại thoai thoải trải dài, càng về cuối càng hạ thấp. Nhìn từ xa chỉ thấy một bên ra dáng Tham Lang.
3. Trắc (Nghiêng sườn)
Đặc trưng là “mặt nhọn, thân đi thẳng”. Núi dẫu có phần mặt nhọn hoặc gồ lên thành đỉnh, nhưng tổng thể phần thân lại lao thẳng tuột đi mất, không tụ được khí.
4. Không (Trống rỗng) và Thạch (Đá nham nhở)
Hình Không: Núi có dáng dấp Tham Lang nhưng trên thân lại có quá nhiều hang động, kẽ nứt khiến chân khí thất thoát, rò rỉ hết ra ngoài.
Hình Thạch: Đất thì ít mà đá thì nhọn hoắt, lởm chởm, thô thiển. Tổng thể ngọn núi không toát lên được một chút “tú khí” nào. Dù mang dáng Tham Lang nhưng hoàn toàn mất đi sự cát lợi.
5. Đảo (Đổ, Lệch không ngay ngắn)
Thuật ngữ phong thủy có câu “Lưng nghiêng mặt thẳng gọi là Phi phong” (Phi phong nghĩa là núi bay). Hình Đảo của Tham Lang chính là dạng Phi phong nhưng lại bị xiên vẹo, lệch lạc, mặt thẳng lưng dốc nhưng không hề ngay ngắn.
LỜI KẾT:
Đặc điểm chung của 7 loại Ác hình Tham Lang này là: Hình thể sạt lở, nứt nẻ, thiếu đối xứng, nhiều hang động thoát khí, xiên vẹo và nhiều ác thạch (đá xấu).
Rất nhiều người đi tầm long, vừa mới nhìn thấy một tinh phong kẹp theo long mạch vút cao lên đã vội mừng rỡ, ngộ nhận đó là Tham Lang chính long xuất hiện, rồi cứ bám theo mạch núi đó để tìm huyệt.
Họ đâu biết rằng, Chân Long khi đi đến nơi kết huyệt không bao giờ xuất hiện dưới bộ dạng cao vút đột ngột như thế. Chân Long phải trải qua quá trình “bóc hoán”, “thoái sát”, lột bỏ sự thô kệch để trở nên nhu hòa, hoặc hạ thấp, nhỏ lại, hoặc rớt xuống vùng bình dương (đất bằng), đứt đoạn rồi lại nối liền, ẩn hiện khôn lường.
Kiến thức hình loan vô cùng vi diệu. Các bạn nên học có hệ thống, dưới đây là hình tham lang trên sách, trên thực tế sẽ khác hình trong sách nhiều. Các bạn tham gia khóa học của tôi sẽ nhận biết được đầy đủ hình dạng của cửu tinh thực tế và phân biệt rõ ràng được từng loại



